Nhập khẩu sắt thép 10 tháng tiếp tục tăng cả về lượng và trị giá

02/12/2013

Trung Quốc – vẫn là thị trường chính cung cấp sắt thép cho Việt Nam, chiếm gần 40% thị phần, tương đương với trên 3 nghìn tấn, trị giá 2 tỷ USD, tăng 58,53% về lượng và tăng 42,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. Thị trường đứng thứ hai sau Trung Quốc là Nhật Bản, với 2,1 triệu tấn, trị giá 1,4 tỷ USD, tăng 25,82% về lượng và tăng 11,40% về trị giá.

Ngoài hai thị trường chính kể trên, Việt Nam còn nhập khẩu sắt thép từ các thị trường khá nữa như Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Braxin… với lượng nhập lần lượt là 1,1 triệu tấn; 796,9 nghìn tấn, 337 nghìn tấn và 142 nghìn tấn…

Đáng chú ý, nhập khẩu sắt thép từ thị trường Ucraina tuy chỉ là 934 tấn, trị giá 829,5 nghìn USD, nhưng so với cùng kỳ năm trước, thì nhập khẩu sắt thép từ thị trường này có tốc độ tăng trưởng mạnh, tăng 2492,823% về lượng và tăng 25.994,49% về trị giá.

Thị trường nhập khẩu sắt thép các loại 10 tháng 2013

ĐVT: USD

(Nguồn số liệu: Thống kê sơ bộ TCHQ)

                                                                                               

 Thị trường

KNNK 10T/2013

 

KNNK 10T/2012

 

Tốc độ tăng trưởng +/- (%)

lượng

trị giá

lượng

trị giá

Lương

trị giá

Tổng KN

7.980.313

5.640.197.752

6.320.785

5.027.223.568

26,26

12,19

Trung Quốc

3.020.350

2.065.895.862

1.905.271

1.454.062.548

58,53

42,08

Nhật Bản

2.162.187

1.417.547.260

1.718.527

1.272.463.443

25,82

11,40

Hàn Quốc

1.155.628

943.562.688

1.255.043

1.117.382.496

-7,92

-15,56

Đài Loan

796.946

566.844.094

642.545

527.931.230

24,03

7,37

Ấn Độ

337.093

224.679.918

73.369

68.033.590

359,45

230,25

Braxin

142.014

77.076.262

42.983

26.843.719

230,40

187,13

Nga

110.992

71.862.183

322.136

209.563.052

-65,54

-65,71

Malaixia

33.235

46.202.845

98.339

86.634.253

-66,20

-46,67

Thái lan

31.117

41.781.889

31.057

43.491.040

0,19

-3,93

Oxtraylia

27.781

14.515.057

40.745

25.134.109

-31,82

-42,25

Hoa Kỳ

22.192

15.108.544

8.407

8.913.662

163,97

69,50

Canada

18.838

12.196.828

12.929

7.677.525

45,70

58,86

Đức

9.798

22.978.722

10.887

21.539.198

-10,00

6,68

Bỉ

9.079

7.926.602

9.157

6.465.019

-0,85

22,61

Niuzilan

8.553

4.407.954

6.158

3.093.464

38,89

42,49

Indoneisa

7.398

10.995.798

34.879

35.977.877

-78,79

-69,44

Hà Lan

6.313

5.022.147

14.477

9.949.447

-56,39

-49,52

Singapore

5.767

9.429.167

5.383

10.215.103

7,13

-7,69

Tây Ban Nha

3.139

2.137.940

6.290

6.761.984

-50,10

-68,38

Pháp

2.190

12.363.186

18.167

17.723.856

-87,95

-30,25

Thụy Điển

1.924

7.128.017

3.488

4.670.569

-44,84

52,62

Phần Lan

1.702

5.379.323

2.473

7.733.089

-31,18

-30,44

Hongkong

1.617

2.158.231

1.327

2.234.126

21,85

-3,40

Nam Phi

1.460

2.075.420

4.888

4.233.626

-70,13

-50,98

Ucraina

934

829.558

3.005

3.179

2.492,823

25.994,94

Anh

894

1.299.007

904

1.595.343

-1,11

-18,58

Áo

887

8.793.978

1.104

8.127.313

-19,66

8,20

Italia

787

1.404.353

1.035

1.284.746

-23,96

9,31

Philippin

750

447.900

1.628

1.258.981

-53,93

-64,42

Thổ Nhĩ Kỳ

361

369.751

18.080

12.098.058

-98,00

-96,94

Đan Mạch

56

193.537

254

410.757

-77,95

-52,88

Ba Lan

42

145.914

389

801.968

-89,20

-81,81

Dẫn nguồn tin từ HQ Online, thị trường thép hiện đang có sự cạnh tranh gay gắt do tồn kho cao, giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh cùng với đó là sức ép cạnh tranh về giá bán và hàng ngoại nhập khẩu về lấn át cũng như một số chính sách tháo gỡ khó khăn cho thị trường chưa phát huy tác dụng khiến các doanh nghiệp ngành thép trong nước khó càng thêm khó.

Theo Hiệp hội Thép (VSA), nguyên nhân khiến thị trường thép vẫn trì trệ là do thị trường bất động sản vẫn đóng băng, trong khi lượng cung vượt cầu quá xa, cùng với sức ép của thị trường do thép Trung Quốc giá rẻ vẫn nhập vào Việt Nam quá nhiều khiến cho thép nội phải cạnh tranh gay gắt, từ đó gây ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất trong nước.

Theo thống kê của VSA cho thấy, hiện nay cả nước có hơn 460 DN sản xuất thép, tăng gần 6 lần so với năm 2000, công suất thép xây dựng cả nước đã lên đến 9 triệu tấn, trong khi nhu cầu tiêu thụ của cả nước trong những năm gần đây chỉ đạt chừng trên dưới 6 triệu tấn/năm tùy thời điểm.

Trong khi đó, khó khăn và yếu kém nhất của ngành thép hiện nay là do nguồn vốn hạn chế, phụ thuộc chủ yếu đi vay, nguồn nguyên liệu phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu phôi, cộng với công nghệ lạc hậu... dẫn đến chi phí sản xuất tăng cao, từ đó tạo nên sức cạnh tranh yếu. Theo số liệu thống kê, hiện có gần 30% doanh nghiệp ngành thép sử dụng công nghệ lạc hậu, hơn 40% sử dụng công nghệ ở mức trung bình. Chỉ khoảng 30% sử dụng công nghệ tiên tiến và hiện đại.

Theo Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, để tồn tại, các doanh nghiệp cần có phương án loại dần những công nghệ lạc hậu bởi giá năng lượng ngày càng tăng cao, từng bước nâng cao công nghệ sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất và tăng tính cạnh tranh. Bên cạnh đó, các DN cũng cần chú trọng đầu tư phát triển sản xuất theo quy hoạch trên cơ sở cân đối cung - cầu của thị trường và tăng cường xuất khẩu, mở rộng thị trường.

 

 

Copyright 2020 VNSTEEL Thăng Long. All right reserved and Designed by Sudo